|
Symantec Norton Ghost 9.0 – Tiện ích Sao Lưu đĩa Cứng đa Năng
Ghost của bạn cũng sẽ phải thay đổi.
1. Chương trình Ghost chạy trên DOS ở đâu?
Trước tiên cũng cần phải nhắc là bạn không thể tạo được đĩa mềm hay
CD khởi động DOS có chứa chương trình Ghost,
mà phải sử dụng đĩa chứa bộ cài đặt Ghost, gọi là Symantec Recovery
Disk. Dùng đĩa này bạn sẽ làm việc trong môi trường Windows PE, một
trong những hệ điều hành giao diện đồ họa giống Microsoft Windows
nhưng nhỏ gọn hơn. Do đó, nếu bạn biết cách làm đĩa CD Windows PE (đã
hướng dẫn trong e-CHÍP số 83) thì mới có thể tự tạo được đĩa khởi
động có Ghost 9.0.
Trong Symantec Recovery Disk, có các phần mềm bảo trì hệ thống như:
Norton Ghost 2003, Norton Ghost 8 (32bit), Norton Disk Doctor,
Norton GoBack, Norton AntiVirus và Norton Ghost 9.0 được cài
đặt sẵn. Giao diện các chương trình cài đặt trong Windows và trong
Windows PE (của đĩa CD) hoàn toàn giống nhau.
2. Môi trường làm việc:
Symantec Norton Ghost 9.0 chỉ cài đặt được
trên Windows 2000 Professional, Windows XP Home/Professional (đòi
hỏi phải có Microsoft .NET Framework 1.1 cài đặt trên hệ thống) và
không thể chạy được trên họ Windows Server. Bù lại, Symantec cung
cấp thêm bộ Norton Ghost 2003 trong đĩa cài đặt để hỗ trợ người dùng
Windows 9x/ME, Windows NT 4. Thêm nữa, phiên bản Ghost 9.0 không hề
hỗ trợ những tập tin sao lưu của các phiên bản trước mặc dù trong
tài liệu có nêu rõ rằng hỗ trợ tất cả phiên bản trước của Ghost và
Drive Image. Vì thế nếu muốn phục hồi dữ liệu từ các phiên bản cũ
bạn phải dùng chương trình Norton Ghost 8 trên đĩa CD.

3. Sao lưu dữ liệu:
Sau khi cài đặt, chương trình sẽ chạy thường trú trong hệ thống và
xuất hiện biểu tượng
trong khay hệ thống. Để chạy chương trình bạn có thể nhấp kép chuột
vào biểu tượng ấy hoặc nhấp phải chuột rồi chọn Run
Norton Ghost trong menu.

Trong cửa sổ chính, nhấp chuột vào liên kết Back Up Drives tại khung
Pick a backup task bên phải (hoặc chọn trong menu Tools) để gọi chạy
tiến trình sao lưu dữ liệu.

Tiếp đến, nhấn Next trong cửa sổ chào mừng đầu tiên rồi chọn một ổ
đĩa muốn sao lưu trong danh sách Select a drive, or press and
select multiple drives (kết hợp thêm phím Shift hoặc Ctrl nếu muốn
chọn nhiều ổ đĩa). Nhấn Next.

Tại cửa sổ Back Location, bạn chọn thư mục sẽ chứa tập tin sao lưu
trong ô Folder to store backup images, điểm đặc biệt của phiên bản
Ghost 9.0 này là bạn có thể chọn vị trí chứa ngay trên ổ đĩa đang
sao lưu (thậm chí bạn vẫn làm việc bình thường trên ổ đĩa đang sao
lưu). Khung bên dưới hiển thị tên tập tin sao lưu do chương trình đề
nghị, bạn có thể nhấn nút Rename để đổi tên khác.
Trong trường hợp muốn đặt bản sao lưu vào máy tính khác trên mạng,
hãy chọn tùy chọn Network file bên dưới Back up to (phải dùng địa
chỉ mạng), hoặc chọn CD-RW/DVD-RW nếu muốn đưa trực tiếp tập tin sao
lưu vào đĩa CD ReWrite (bạn hãy đọc tài liệu đi kèm để biết những ổ
đĩa CD-RW/DVD-RW nào được chương trình hỗ trợ). Sau đó nhấn Next.

Trong danh sách Compression, nếu bạn chọn cấp độ nén là High (nén
mạnh nhất) tốc độ sao lưu sẽ chậm, nếu chọn None (không nén) tốc độ
sẽ nhanh hơn. Có thể đánh dấu chọn Verify backup image after
creation để chương trình kiểm tra lại tập tin sao lưu được tạo ra có
tốt không, nếu có lỗi thì chương trình sẽ thực hiện lại.
Trường hợp tập tin sao lưu được tạo ra quá lớn (không chứa vừa trên
một đĩa CD), hãy đánh dấu chọn mục Divide the backup image into
smaller files to simplify archiving, rồi chỉ định dung lượng cho mỗi
tập tin muốn chương trình tự động chia ra vào ô File size (tính bằng
MB).
Nếu sợ tập tin sao lưu bị người khác sử dụng trái phép thì hãy nhấp
nút Advanced để cấu hình một vài thông số nâng cao như mật khẩu, lỗi
sector... Để đặt mật khẩu bảo vệ, đánh dấu Use password rồi nhập hai
lần mật khẩu giống nhau vào ô Password và Confirm password. Nếu trên
đĩa cứng có khá nhiều lỗi và bạn sợ những lỗi này sẽ được chép vào
chung với tập tin sao lưu (khi đem sang ổ cứng khác), tốt nhất nên
đánh dấu Ignore bad sectors during copy. Chọn xong nhấn OK và Next
hai lần để bắt đầu tiến trình sao lưu dữ liệu.
Thêm một điểm nổi bật nữa của phiên bản Ghost 9.0 là bạn không cần
phải khởi động lại máy vào môi trường DOS trước khi bắt đầu sao lưu
và đây cũng chính là ưu điểm của Drive Image chứ không phải Ghost.

4. Phục hồi dữ liệu:
Tại giao diện chính của chương trình, bạn nhấp Restore a Drive và
nhấn Next trong cửa sổ chào mừng. Nhập đường dẫn đến tập tin sao lưu
muốn phục hồi hoặc nhấn nút Browse nếu không nhớ rõ vị trí (mặc dù
chương trình có hỗ trợ phần mở rộng .gho nhưng không cho phục hồi mà
yêu cầu phải sử dụng Norton Ghost
2003). Nhấn Next.

Nếu khi sao lưu bạn có dùng mật khẩu bảo vệ, lúc này chương trình sẽ
yêu cầu bạn nhập mật khẩu vào. Bạn phải nhập đúng mới tiếp tục được.

Chọn ổ đĩa và phân vùng bạn muốn phục hồi trong cửa sổ tiếp theo rồi
nhấn Next. Kế đó chọn một vài thiết đặt trước khi phục hồi như:
- Verify image file before restore: kiểm tra tập tin sao lưu trước
khi phục hồi.
- Check for file system errors: kiểm tra lỗi hệ thống tập tin.
- Set drive active (for booting OS): đặt chế độ khởi động cho đĩa.
Chọn xong nhấn Next hai lần để tiến hành phục hồi.

5. Phục hồi những tập tin và thư mục chỉ định:
Muốn thế, trước tiên bạn phải chạy Symantec
Backup Image Browser bằng cách nhấp Restore Files or Folders tại
giao diện chính của chương trình hoặc từ menu Start -> All Programs
-> Norton Ghost.

Tuy giao diện chương trình khá giống Ghost Explorer của các phiên
bản Ghost trước song bạn lại không thể mở tập tin .gho trong đây,
nếu bạn vẫn cố gắng mở thì một cửa sổ Ghost Explorer hiện ra chứ
không phải Symantec Backup Image Browser.
Symantec Backup Image Browser có khả năng ánh xạ tập tin sao lưu
thành một ổ đĩa trên hệ thống bằng cách chọn gốc của cây thư mục (tức
là tên của tập tin sao lưu) trong khung bên trái rồi nhấn nút Mount
a v2i drive. Bạn chọn tên ổ đĩa ánh xạ trong danh sách Drive letter,
nhấn OK là xong.

Bây giờ, muốn phục hồi thư mục hoặc tập tin nào trong tập tin sao
lưu, bạn chỉ việc đánh dấu chọn chúng trong vùng bên phải tiếp đó
vào menu File nhấp mục Restore rồi nhấn nút Restore.

Theo Echip
|